Pháp lệnh cán bộ, công chức

Thứ Tư, 07/04/2010 23:45

Để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực và tận tụy phục vụ nhân dân, trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;


 Để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ,
năng lực và tận tụy phục vụ nhân dân, trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa;
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992;  
Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 2 về Chương trình
xây dựng luật, pháp lệnh năm 1998;  
Pháp lệnh này quy định về cán bộ, công chức. 

CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
 
Điều 1.  
 1. Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam,
trong biên chế, bao gồm:  
 a) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ
quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; ở tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); ở quận, huyện, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);
 b) Những người  được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc  được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc  trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung
ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
 c) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc
giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp
tỉnh, cấp huyện;  
 d) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc
giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong  đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ
chức chính trị và tổ chức chính trị - xã hội;  
  đ) Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân;  
 e) Những người  được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc  được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không
phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong
cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sỹ quan
chuyên nghiệp;
  g) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ
trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó Bí thư Đảng
uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn
(sau đây gọi chung là cấp xã);  
 h) Những người  được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn
nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã.   2. Cán bộ, công chức quy định tại các điểm a, b, c, đ, e, g và h khoản 1 Điều
này  được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; cán bộ, công chức quy  định tại
điểm d khoản 1 Điều này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn
thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật.
Điều 2  
 Cán bộ, công chức là công bộc của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân
dân, phải không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức, học tập nâng cao trình độ và
năng lực công tác để thực hiện tốt nhiệm vụ, công vụ được giao.   
Điều 3   
 Cán bộ, công chức ngoài việc thực hiện các quy định của Pháp lệnh này,
còn phải tuân theo các quy định có liên quan của Pháp lệnh chống tham nhũng,
Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các văn bản pháp luật khác.
Điều 4  
  Công tác cán bộ, công chức đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng
sản Việt Nam, bảo  đảm nguyên tắc tập thể, dân chủ  đi  đôi với phát huy trách
nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Điều 5  
 1. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
quy định cụ thể việc áp dụng Pháp lệnh này đối với những người do bầu cử không
thuộc đối tượng quy định tại điểm a và điểm g khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này.
  2. Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng Pháp lệnh này đối với sĩ quan,
quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan,  đơn vị thuộc
Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong cơ quan, đơn vị thuộc
Công an nhân dân; thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó tổng giám
đốc, Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán trưởng và những cán bộ quản lý khác trong
các doanh nghiệp nhà nước.
  Điều 5a  
 Chính phủ quy định chức danh, tiêu chuẩn, nghĩa vụ, quyền lợi, những việc
không được làm và chế độ, chính sách khác đối với cán bộ, công chức cấp xã quy
định tại điểm g và điểm h khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này.  
  Điều 5b
  1. Chế độ công chức dự bị được áp dụng trong cơ quan, tổ chức sử dụng cán
bộ, công chức quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này.
Người được tuyển dụng làm công chức dự bị phải có đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo
quy định của pháp luật.
 2. Căn cứ vào các quy định của Pháp lệnh này, Chính phủ quy định chế độ
tuyển dụng, sử dụng, nghĩa vụ, quyền lợi, những việc không được làm và chế độ,
chính sách khác đối với công chức dự bị.  
 
CHƯƠNG II
NGHĨA VỤ, QUYỀN LỢI CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
 
Điều 6  
 Cán bộ, công chức có những nghĩa vụ sau đây:   1. Trung thành với Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ
sự an toàn, danh dự và lợi ích quốc gia;
 2. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách,
pháp luật của Nhà nước; thi hành nhiệm vụ, công vụ theo đúng quy định của pháp
luật;
 3. Tận tụy phục vụ nhân dân, tôn trọng nhân dân;
  4. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tham gia sinh hoạt với cộng đồng dân cư
nơi cư trú, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân;
 5. Có nếp sống lành mạnh, trung thực, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư;
không được quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng;
  6. Có ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm trong công tác; thực hiện
nghiêm chỉnh nội quy của cơ quan, tổ chức; giữ gìn và bảo vệ của công, bảo vệ bí
mật nhà nước theo quy định của pháp luật;
 7. Thường xuyên học tập nâng cao trình độ; chủ động, sáng tạo, phối hợp
trong công tác nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ, công vụ được giao;
 8. Chấp hành sự điều  động, phân công công tác của cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền.
Điều 7  
 Cán bộ, công chức chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành nhiệm
vụ, công vụ của mình; cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo còn phải chịu trách
nhiệm về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức thuộc quyền theo
quy định của pháp luật.
Điều 8  
 Cán bộ, công chức phải chấp hành quyết định của cấp trên; khi có căn cứ để
cho là quyết định đó trái pháp luật thì phải báo cáo ngay với người ra quyết định;
trong trường hợp vẫn phải chấp hành quyết định thì phải báo cáo lên cấp trên trực
tiếp của người ra quyết định và không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc
thi hành quyết định đó.
Điều 9
 Cán bộ, công chức có các quyền lợi sau đây:
 1. Được nghỉ hàng năm theo quy định tại Điều 74, Điều 75, khoản 2, khoản
3 Điều 76 và Điều 77, nghỉ các ngày lễ theo quy định tại Điều 73 và nghỉ việc
riêng theo quy định tại Điều 78 của Bộ luật lao động;
  2. Trong trường hợp có lý do chính đáng được nghỉ không hưởng lương sau
khi được sự đồng ý của người đứng đầu cơ quan, tổ chức sử dụng cán bộ, công
chức;
 3. Được hưởng các chế  độ trợ cấp bảo hiểm xã hội,  ốm  đau, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí và chế độ tử tuất theo quy định tại các
điều 107,142,143,144,145 và 146 của Bộ luật lao động;
 4. Được hưởng chế độ hưu trí, thôi việc theo quy định tại Mục 5 Chương IV
của Pháp lệnh này;
  5. Cán bộ, công chức là nữ còn  được hưởng các quyền lợi quy  định tại
khoản 2 Điều 109, các điều 111,113,114,115,116 và 117 của Bộ luật lao động;
 6. Được hưởng các quyền lợi khác do pháp luật quy định. Điều 10  
 Cán bộ, công chức được hưởng tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, công
vụ được giao, chính sách về nhà ở, các chính sách khác và được bảo đảm các điều
kiện làm việc.
 Cán bộ, công chức làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, hải đảo hoặc
làm việc trong các ngành, nghề độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp và chính
sách ưu đãi do Chính phủ quy định.
Điều 11  
 Cán bộ, công chức có quyền tham gia hoạt động chính trị, xã hội theo quy
định của pháp luật; được tạo điều kiện để học tập nâng cao trình độ, được quyền
nghiên cứu khoa học, sáng tác; được khen thưởng khi hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ, công vụ được giao.
Điều 12  
 Cán bộ, công chức có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về việc làm của cơ
quan, tổ chức, cá nhân mà mình cho là trái pháp luật đến các cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Điều 13  
 Cán bộ, công chức khi thi hành nhiệm vụ, công vụ được pháp luật và nhân
dân bảo vệ.
Điều 14  
 Cán bộ, công chức hy sinh trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ được xem
xét để công nhận là liệt sĩ theo quy định của pháp luật.
 Cán bộ, công chức bị thương trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ thì được
xem xét để áp dụng chính sách, chế độ tương tự như đối với thương binh.
CHƯƠNG III
NHỮNG VIỆC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC KHÔNG ĐƯỢC LÀM
 
Điều 15  
 Cán bộ, công chức không được chây lười trong công tác, trốn tránh trách
nhiệm hoặc thoái thác nhiệm vụ, công vụ; không được gây bè phái, mất đoàn kết,
cục bộ hoặc tự ý bỏ việc.
Điều 16  
 Cán bộ, công chức không được cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, gây khó
khăn, phiền hà đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong khi giải quyết công việc.
Điều 17  
Cán bộ, công chức không được thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia
quản lý, điều hành các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức
nghiên cứu khoa học tư.
Cán bộ, công chức không được làm tư vấn cho các doanh nghiệp, tổ chức
kinh doanh, dịch vụ và các tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về
các công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, những công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình và các công việc khác mà việc tư vấn đó có
khả năng gây phương hại đến lợi ích quốc gia.
Chính phủ quy định cụ thể việc làm tư vấn của cán bộ, công chức.
Điều 18  
 Cán bộ, công chức làm việc ở những ngành, nghề có liên quan đến bí mật
nhà nước, thì trong thời hạn ít nhất là năm năm kể từ khi có quyết định hưu trí, thôi
việc, không được làm việc cho các tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài hoặc
tổ chức liên doanh với nước ngoài trong phạm vi các công việc có liên quan đến
ngành, nghề mà trước đây mình đã đảm nhiệm.  
 Chính phủ quy định cụ thể danh mục ngành, nghề, công việc, thời hạn mà
cán bộ, công chức không được làm và chính sách ưu đãi đối với những người phải
áp dụng quy định của Điều này.
Điều 19  
Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, vợ hoặc chồng của
những người đó không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi
ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước.
Điều 20  
 Người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức không
được bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ
lãnh đạo về tổ chức nhân sự, kế toán - tài vụ; làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan,
tổ chức hoặc mua bán vật tư, hàng hoá, giao dịch, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ
chức đó.  
 
CHƯƠNG IV
BẦU CỬ, TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
 
MỤC 1  
BẦU CỬ
Điều 21  
 Việc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và các chức
danh khác trong hệ thống các cơ quan nhà nước được thực hiện theo quy định của
Hiến pháp, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân
dân, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Hội đồng nhân
dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản pháp luật khác.
 Việc bầu cử các chức danh trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
được thực hiện theo điều lệ của các tổ chức đó.  
Điều 22  
 Những người do bầu cử quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh
này khi thôi giữ chức vụ thì được bố trí công tác theo năng lực, sở trường, ngành,
nghề chuyên môn của mình và được bảo đảm các chế độ, chính sách đối với cán
bộ, công chức.
 
 MỤC 2
TUYỂN DỤNG
 
Điều 23   
  1. Khi tuyển dụng cán bộ, công chức quy định tại các điểm b, c, đ, e và h
khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này, cơ quan, tổ chức phải căn cứ vào nhu cầu công
việc, vị trí công tác của chức danh cán bộ, công chức và chỉ tiêu biên chế được
giao.  
  2. Khi tuyển dụng cán bộ, công chức quy định tại điểm d khoản 1 Điều 1
của Pháp lệnh này, đơn vị sự nghiệp phải căn cứ vào nhu cầu công việc, kế hoạch
biên chế và nguồn tài chính của đơn vị. Việc tuyển dụng được thực hiện theo hình
thức hợp đồng làm việc.
 3. Người được tuyển dụng làm cán bộ, công chức quy định tại điểm b và
điểm c khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này phải qua thực hiện chế độ công chức dự
bị.
 4. Người  được tuyển dụng phải có phẩm chất  đạo  đức,  đủ tiêu chuẩn và
thông qua thi tuyển; đối với việc tuyển dụng ở các đơn vị sự nghiệp, vùng cao,
vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo hoặc để đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức ở vùng dân tộc ít người thì có thể thực hiện thông qua xét tuyển.
 Chính phủ quy định cụ thể chế độ thi tuyển và xét tuyển.
Điều 24  
 Việc tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân được thực hiện theo quy định của Luật tổ chức Toà án
nhân dân, Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân, Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân và Pháp lệnh về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.
MỤC 3  
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
 
Điều 25  
 Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức có trách nhiệm
xây dựng quy hoạch, kế hoạch và tổ chức việc đào tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn và
nâng cao trình độ, năng lực của cán bộ, công chức.
Điều 26
 Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phải căn cứ vào quy hoạch, kế
hoạch, tiêu chuẩn đối với từng chức vụ, tiêu chuẩn nghiệp vụ của từng ngạch.
Điều 27  
 Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức do ngân sách nhà nước cấp.
Chế độ đào tạo, bồi dưỡng do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định.
 MỤC 4  
ĐIỀU ĐỘNG, BIỆT PHÁI
Điều 28
 Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức có quyền điều
động cán bộ, công chức đến làm việc tại cơ quan, tổ chức ở trung ương hoặc địa
phương theo yêu cầu nhiệm vụ, công vụ.
Điều 29
 Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức có quyền biệt
phái cán bộ, công chức đến làm việc có thời hạn ở một cơ quan, tổ chức khác theo
yêu cầu nhiệm vụ, công vụ.
Cán bộ, công chức được biệt phái chịu sự phân công công tác của cơ quan,
tổ chức nơi được cử đến. Cơ quan, tổ chức biệt phái cán bộ, công chức có trách
nhiệm trả lương và bảo đảm các quyền lợi khác của cán bộ, công chức được biệt
phái.
MỤC 5  
HƯU TRÍ, THÔI VIỆC
 
Điều 30  
 Cán bộ, công chức có đủ điều kiện về tuổi đời và thời gian đóng bảo hiểm
xã hội quy định tại Điều 145 của Bộ luật lao động thì được hưởng chế độ hưu trí
và các chế độ khác quy định tại Điều 146 của Bộ luật lao động.
Điều 31  
 1. Trong trường hợp do yêu cầu công việc ở một số ngành, nghề và vị trí
công tác, thì thời gian công tác của cán bộ, công chức đã có đủ điều kiện được
hưởng chế độ hưu trí có thể được kéo dài thêm. Thời gian kéo dài thêm không quá
năm năm; trong trường hợp đặc biệt thì thời hạn này có thể được kéo dài thêm.
 2. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định cụ thể danh mục ngành, nghề
và vị trí công tác mà thời gian công tác của cán bộ, công chức được phép kéo dài
thêm.
 3. Việc kéo dài thời gian công tác của cán bộ, công chức phải bảo  đảm
những nguyên tắc sau đây:  
  a)  Cơ quan, tổ chức sử dụng cán bộ, công chức thực sự có nhu cầu;   
  b)  Cán bộ, công chức tự nguyện và có đủ sức khoẻ để tiếp tục làm việc.
Điều 32  
  1. Cán bộ, công chức quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và h khoản 1 Điều 1
của Pháp lệnh này được thôi việc và hưởng chế độ thôi việc trong các trường hợp
sau đây:
  a) Do sắp xếp tổ chức, giảm biên chế theo quyết định của cơ quan, tổ chức,
đơn vị có thẩm quyền;
 b) Có nguyện vọng thôi việc và được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền
đồng ý.
 Chính phủ quy định chế độ, chính sách thôi việc đối với các trường hợp quy
định tại khoản này.  2. Cán bộ, công chức tự ý bỏ việc thì bị xử lý kỷ luật, không được hưởng
chế độ thôi việc và các quyền lợi khác, phải bồi thường chi phí đào tạo theo quy
định của pháp luật.
 3. Trong thời gian  đang bị xem xét kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm
hình sự thì cán bộ, công chức không được thôi việc trước khi có quyết định xử lý.
 
CHƯƠNG V
QUẢN LÝ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
 
Điều 33  
 Nội dung quản lý về cán bộ, công chức bao gồm:
1. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, điều lệ,
quy chế về cán bộ, công chức;  
2. Lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức;  
3. Quy định chức danh và tiêu chuẩn cán bộ, công chức;
4. Quyết định biên chế cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước ở
trung ương; quy định định mức biên chế hành chính, sự nghiệp thuộc Uỷ ban nhân
dân; hướng dẫn  định mức biên chế trong các  đơn vị sự nghiệp của nhà nước  ở
trung ương;   
5. Tổ chức thực hiện việc quản lý, sử dụng và phân cấp  quản lý  cán bộ, công
chức;  
6. Ban hành quy chế tuyển dụng, nâng ngạch; chế độ tập sự, thử việc;
7. Đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá cán bộ, công chức;  
8. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách
đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức;  
9. Thực hiện việc thống kê cán bộ, công chức;  
10. Thanh tra, kiểm tra việc thi hành các quy định của pháp luật về cán bộ,
công chức;  
11. Chỉ đạo, tổ chức giải quyết các khiếu nại, tố cáo đối với cán bộ, công
chức.
Điều 34  
 1. Việc quản lý cán bộ, công chức được thực hiện theo quy định phân cấp
của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Nhà nước.
 2. Việc quản lý cán bộ do bầu cử được thực hiện theo quy định của Luật tổ
chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ
ban nhân dân, điều lệ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
 3. Việc quản lý Thẩm phán, Kiểm sát viên được thực hiện theo quy định
của Luật tổ chức Toà án nhân dân, Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án
nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Pháp lệnh về Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân.
  4. Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện việc
quản lý cán bộ, công chức theo thẩm quyền. Điều 35  
 1. Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định biên chế cán bộ, công chức thuộc
Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân; số lượng Thẩm phán của các Toà
án.
  2. Biên chế công chức Văn phòng Quốc hội do Uỷ ban thường vụ Quốc hội
quyết định.
  3. Biên chế công chức Văn phòng Chủ tịch nước do Chủ tịch nước quyết
định.
  4. Biên chế cán bộ làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội do tổ chức có thẩm quyền quyết định.
Điều 36  
1. Chính phủ quyết định biên chế và quản lý cán bộ, công chức làm việc trong
cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương; quy định định mức biên chế hành chính,
sự nghiệp thuộc Uỷ ban nhân dân; hướng dẫn định mức biên chế trong các đơn vị sự
nghiệp của Nhà nước ở trung ương.  
2. Bộ Nội vụ giúp Chính phủ thực hiện việc quản lý cán bộ, công chức quy
định tại khoản 1 Điều này.  
3. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quản lý cán bộ, công chức theo
phân cấp của Chính phủ và theo quy định của pháp luật.  
 
CHƯƠNG VI
KHEN THƯỞNG VÀ XỬ  LÝ VI PHẠM
 
Điều 37  
  1.  Cán bộ, công chức có thành tích trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
thì được xét khen thưởng theo các hình thức sau đây:
  a)  Giấy khen;
  b)  Bằng khen;
  c)  Danh hiệu vinh dự Nhà nước;
  d)  Huy chương;
  đ)  Huân chương.
 2. Việc khen thưởng cán bộ, công chức được thực hiện theo quy định của
pháp luật.
Điều 38  
 Cán bộ, công chức  quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và h khoản 1 Điều 1
của Pháp lệnh này lập thành tích xuất sắc trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
thì được xét nâng ngạch, nâng bậc lương trước thời hạn theo quy định của Chính
phủ.
Điều 39  
  1. Cán bộ, công chức quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và h khoản 1 Điều 1
của Pháp lệnh này vi phạm các quy định của pháp luật, nếu chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì tuỳ theo tính chất, mức  độ vi phạm phải chịu một
trong những hình thức kỷ luật sau đây:
 a) Khiển trách;
 b) Cảnh cáo;
 c) Hạ bậc lương;
 d) Hạ ngạch;
  đ) Cách chức;
 e) Buộc thôi việc.
 Việc xử lý kỷ luật thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý
cán bộ, công chức.
 2. Việc bãi nhiệm, kỷ luật đối với cán bộ quy định tại điểm a và điểm g
khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này được thực hiện theo quy định của pháp luật và
điều lệ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
  3. Cán bộ, công chức vi phạm pháp luật mà có dấu hiệu của tội phạm thì bị
truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
 4. Cán bộ, công chức làm mất mát, hư hỏng trang bị, thiết bị hoặc có hành
vi khác gây thiệt hại tài sản của Nhà nước thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật.
  5. Cán bộ, công chức có hành vi vi phạm pháp luật trong khi thi hành nhiệm
vụ, công vụ gây thiệt hại cho người khác thì phải hoàn trả cho cơ quan, tổ chức
khoản tiền mà cơ quan, tổ chức đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định
của pháp luật.  
Điều 40  
 Việc kỷ luật đối với cán bộ, công chức phải được Hội đồng kỷ luật của cơ
quan, tổ chức sử dụng cán bộ, công chức xem xét và đề nghị cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền quyết định.
 Thành phần và quy chế hoạt động của Hội đồng kỷ luật do Chính phủ, tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quy định.
Điều 41  
 Trong thời gian đang bị xem xét kỷ luật, cán bộ, công chức có thể bị cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý ra quyết định tạm đình chỉ công tác nếu xét
thấy cán bộ, công chức đó tiếp tục làm việc có thể gây khó khăn cho việc xác minh
hoặc tiếp tục có hành vi vi phạm. Thời hạn tạm  đình chỉ không quá mười lăm
ngày, trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng không được quá ba tháng; hết thời
hạn tạm đình chỉ công tác, nếu không bị xử lý thì cán bộ, công chức được tiếp tục
làm việc. Cán bộ, công chức trong thời gian bị tạm đình chỉ công tác được hưởng
lương theo quy định của Chính phủ.
 Cán bộ, công chức không có lỗi thì sau khi tạm đình chỉ công tác được bố
trí về vị trí công tác cũ; trường hợp cán bộ, công chức bị xử lý kỷ luật bằng các
hình thức khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch thì tuỳ theo tính chất, mức
độ vi phạm có thể được bố trí về vị trí công tác cũ hoặc chuyển làm công tác khác.
Cán bộ, công chức bị kỷ luật bằng hình thức cách chức được bố trí làm công tác
khác. Điều 42  
 Cán bộ, công chức quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và h khoản 1 Điều 1
của Pháp lệnh này khi bị kỷ luật có quyền khiếu nại về quyết định kỷ luật đối với
mình đến cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
 Cán bộ, công chức quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và h khoản 1 Điều 1
của Pháp lệnh này giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống bị buộc
thôi việc có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của pháp
luật.
Điều 43  
 Cán bộ, công chức quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và h khoản 1 Điều 1
của Pháp lệnh này bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo, cách chức thì bị
kéo dài thời gian nâng bậc lương thêm một năm; trong trường hợp bị kỷ luật bằng
một trong các hình thức từ khiển trách đến cách chức thì không được bổ nhiệm vào
các chức vụ cao hơn trong thời hạn ít nhất một năm, kể từ khi có quyết định kỷ
luật.
 Trong trường hợp cán bộ, công chức bị kỷ luật vì có hành vi tham nhũng,
thì việc xử lý kỷ luật  được thực hiện theo quy  định tại Pháp lệnh chống tham
nhũng và các quy định khác của pháp luật, điều lệ của tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội.
Điều 44  
 Cán bộ, công chức phạm tội bị Toà án phạt tù mà không được hưởng án
treo thì đương nhiên bị buộc thôi việc, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực
pháp luật.
Điều 45   
 Cán bộ, công chức bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự mà đã
được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kết luận là oan, sai thì được phục hồi danh
dự, quyền lợi và được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Điều 46  
 Các quyết định về khen thưởng và kỷ luật được lưu vào hồ sơ của cán bộ,
công chức.
 
CHƯƠNG VII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 47   
 Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2003.  
 Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bãi bỏ.
Điều 48  
  1. Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
 2. Căn cứ vào Pháp lệnh này, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
quy định cụ thể việc thực hiện đối với cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý của mình.
 
Ý kiến bạn đọc
  • phap lenh cong chuc

Đọc nhiều